024 6651 3639 - 028 2262 8080‬

Những hiểu nhầm thường gặp khi tính thuế TNCN (Phần 1)



Kỳ này ASTC sẽ chia sẻ với bạn đọc về những sai sót mà kế toán thường mắc phải trong quá trình tính thuế thu nhập cá nhân (TNCN). Chúng tôi tổng hợp các lỗi hiểu nhầm liên quan đến tính tuân thủ các văn bản, quy định hướng dẫn của pháp luật.

 

Tính vào các khoản giảm trừ khi tính thuế TNCN của khoản khấu trừ đoàn phí của người lao động (như khoản trích nộp Bảo hiểm bắt buộc)

Theo quy định tại tiết a, khoản 4, điều 7, Thông tư 111/2013/TT-BTC hướng dẫn về thuế TNCN thì:

“Các khoản giảm trừ bao gồm: giảm trừ gia cảnh; giảm trừ đóng bảo hiểm, quỹ hưu trí tự nguyện; giảm trừ đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học theo hướng dẫn tại Điều 9 Thông tư này.”

 Như vậy trích nộp đoàn phí không thuộc một trong các khoản giảm trừ trên nên không được trừ trước khi tính thuế TNCN.

 

Không thực hiện khấu trừ tại nguồn trước khi trả thu nhập vãng lai cho các cá nhân

Theo quy định tại tiết i, khoản 1, điều 25, Thông tư 111/2013/TT-BTC thì “Các tổ chức, cá nhân trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động (theo hướng dẫn tại điểm c, d, khoản 2, Điều 2 Thông tư này) hoặc ký hợp đồng lao động dưới ba (03) tháng có tổng mức trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân”.

Các khoản tiền công, tiền thù lao được gọi chung là thu nhập vãng lai như môi giới bất động sản, thực hiện các dịch vụ tư vấn như thuế, kế toán, marketing, thiết kế.., giảng dạy, dịch vụ thuê ngoài khác như bốc dỡ, vận chuyển, tiền lương của lao động không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng.

Trường hợp Doanh nghiệp không khấu trừ, Cơ quan thuế sẽ thực hiện tính lại dưới dạng thu nhập cá nhân nhận được là thu nhập sau thuế.

Ví dụ:

Doanh nghiệp chi trả ba triệu (3.000.000) đồng cho cá nhân môi giới bán hàng, nếu cá nhân đóng thuế
(hay Doanh nghiệp chủ động khấu trừ thuế TNCN) thì mức thuế phải nộp là 3.000.000 x 10% = 300.000 đồng;
trường hợp Doanh nghiệp không khấu trừ thuế TNCN của người lao động (vẫn trả ba triệu đồng),
thì sau khi Cơ quan thuế tính lại, mức thuế TNCN mà Doanh nghiệp cần nộp thay là
(3.000.000/0,95) x 10% = 315.789 đồng.

Như vậy, khi chi trả thu nhập vãng lai nêu trên, Doanh nghiệp phải thực hiện khấu trừ thuế của cá nhân,
đối với từng lần chi trả trên hai triệu đồng
(dưới hai triệu đồng được miễn).
Trường hợp cá nhân ước tính thu nhập trong năm không đến mức chịu thuế (dưới 108 triệu đồng/năm)
thì làm cam kết thu nhập thấp để Doanh nghiệp tạm thời không khấu trừ thuế.

 

Cam kết thu nhập thấp ký sai thời điểm hoặc tại thời điểm ký cam kết người lao động chưa có mã số thuế TNCN.

Căn cứ quy định tại tiết i, khoản 1, điều 25,Thông tư 111/2013/TT-BTC hướng dẫn về thuế TNCN thì:

“Trường hợp cá nhân chỉ có duy nhất thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết (theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.

[…]

Cá nhân làm cam kết theo hướng dẫn tại điểm này phải đăng ký thuế và có mã số thuế tại thời điểm cam kết.”

Thời điểm chi trả tiền công, tiền thù lao cho người lao động thuộc diện khấu trừ thuế theo mức 10%, thì Doanh nghiệp phải khấu trừ thuế cho người lao động, trừ trường hợp người lao động có cam kết thu nhập thấp.

Như vậy, thời điểm ký cam kết thu nhập thấp là thời điểm người lao động nhận thu nhập lần đầu.
Tại thời điểm ký cam kết, người lao động phải có mã số thuế TNCN, nếu không Cơ quan thuế sẽ không chấp nhận các
cam kết trước khi có mã số thuế TNCN.

 

Người lao động ký hợp đồng lao động từ ba (03) tháng trở lên, làm việc ở nhiều nơi nhưng Doanh nghiệp chỉ khấu trừ theo thuế suất 10%.

Theo quy định tại tiết b, khoản 1, điều 25, Thông tư 111/2013/TT-BTC hướng dẫn về thuế TNCN thì:

“b.1) Đối với cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ ba (03) tháng trở lên thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế luỹ tiến từng phần, kể cả trường hợp cá nhân ký hợp đồng từ ba (03) tháng trở lên tại nhiều nơi.”

Như vậy, trường hợp người lao động làm việc ở nhiều nơi, thì tại mỗi Doanh nghiệp vẫn phải khấu trừ theo biểu luỹ tiến.
Người lao động được lựa chọn đăng ký giảm trừ bản thân hoặc gia cảnh tại một Doanh nghiệp, các Doanh nghiệp còn lại
sẽ vẫn khấu trừ theo biểu luỹ tiến mà không giảm trừ bản thân và người phụ thuộc.

 

>>> Tiếp theo

 




Bài viết liên quan


Những hiểu nhầm thường gặp khi tính thuế TNCN (Phần 3)

Những hiểu nhầm thường gặp khi tính thuế TNCN (Phần 2)

Nhận diện chênh lệch lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế

Chuyên gia nước ngoài thuộc dự án phi Chính phủ đến Việt Nam được miễn thuế TNCN?

Hồ sơ cần có để ghi nhận hợp lý chi phí lương của người nước ngoài

Cách xử lý giá trị còn lại của TSCĐ sau khi tháo dỡ

HN: 024 6651 3639 - HCM: 028 2262 8080‬